Quán Huế có nét riêng dễ nhận ra: quán nhỏ, món nhỏ, bày trong chén đĩa nhỏ, khách ăn nhiều món mỗi thứ một chút; vị cay và mặn rõ ràng với ớt, mắm ruốc, mắm nêm; nhiều quán chỉ bán một buổi trong ngày. Những món làm nên tên quán Huế là bún bò Huế, cơm hến và bún hến, bánh bèo, bánh nậm, bánh lọc, bánh ướt, bánh khoái, nem lụi, bánh canh, cùng hàng chè và cà phê muối.
Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ đầu năm 2025 và giữ nguyên địa giới khi cả nước sắp xếp lại còn 34 tỉnh, thành. Ẩm thực Huế có hai dòng: món cung đình cầu kỳ thời nhà Nguyễn và món dân gian của người lao động. Quán xá thuộc về dòng thứ hai, nhưng vẫn mang dấu vết của sự tỉ mỉ cung đình trong cách bày biện. Bài này đi qua các kiểu quán Huế theo giờ trong ngày và những điều nên biết khi ăn quán ở đây.
Vì sao quán Huế nhỏ và món Huế nhỏ
Người lần đầu ăn bánh bèo ở Huế hay ngạc nhiên vì mỗi chén bánh chỉ vừa một muỗng, một đĩa bánh lọc chỉ vài chiếc. Cách bày nhỏ này có nhiều cách giải thích. Có ý kiến cho rằng đó là dấu vết của lối ăn cung đình, nhiều món, mỗi món một chút. Cũng có cách giải thích thực tế hơn: bánh nhỏ chín đều, ăn nhanh, khách gọi thêm bao nhiêu tuỳ sức, quán tính tiền theo số chén đĩa.
Quán Huế cũng nhỏ về không gian. Nhiều quán nằm trong kiệt (hẻm), trong sân nhà, dưới mái hiên, vài bộ bàn ghế thấp. Có quán chỉ mở buổi sáng bán bún bò, chiều lại thành quán bánh. Không ít quán không có biển, khách quen gọi theo tên người bán hoặc theo đặc điểm như "quán dưới gốc cây", "quán cạnh cầu".
Cái nhỏ của quán Huế tạo nên nhịp ăn chậm. Người Huế ăn quà như một thú vui: ngồi xuống, gọi vài đĩa bánh, chậm rãi chấm nước mắm, gọi thêm một chén chè. Khác với lối ăn nhanh của quán phố Hà Nội hay quán cơm Sài Gòn, quán Huế mời bạn ngồi lâu hơn một chút.
Quán bún bò buổi sáng
Bún bò Huế là món của bữa sáng. Phần lớn quán bún bò mở từ sáng sớm và bán tới gần trưa. Tô bún có sợi bún to, nước dùng ninh xương bò, xương heo, thơm sả và mắm ruốc, màu đỏ của dầu điều và ớt.
Phần ăn kèm đa dạng. Bắp bò, nạm, gân, giò heo, chả cua, chả lụa, huyết. Khách có thể gọi "tô đặc biệt" hoặc dặn chỉ lấy những phần mình thích. Rau ăn kèm thường có bắp chuối bào, rau thơm, giá.
Ớt và mắm ruốc trên bàn. Quán bún bò Huế luôn có chén ớt sa tế, ớt tươi và có khi chén mắm ruốc pha để khách thêm. Người ăn cay kém nên nếm nước dùng trước, vì nhiều quán nấu nước đã cay sẵn.
Bún bò ở Huế và ở nơi khác. Bún bò Huế nay có mặt khắp cả nước, mỗi nơi điều chỉnh theo khẩu vị địa phương: ở phía Nam hay ngọt hơn, nhiều topping hơn. Ăn ở chính Huế, bạn sẽ thấy vị mắm ruốc và sả rõ hơn, nước dùng trong hơn, khẩu phần vừa phải.
Cơm hến, bún hến: món dân dã bên sông Hương
Hến là loài nhuyễn thể nhỏ sống ở vùng nước lợ, nước ngọt; cồn Hến giữa sông Hương là địa danh gắn với nghề cào hến và món cơm hến. Cơm hến là cơm nguội trộn với hến xào, tóp mỡ, bánh tráng nướng bóp vụn, rau sống thái nhỏ, đậu phộng rang, mắm ruốc, ớt, rồi chan một chút nước luộc hến nóng. Bún hến làm tương tự với bún thay cơm.
Món có tới hàng chục thành phần nhưng giá bình dân, vì gốc là món của người lao động nghèo tận dụng cơm nguội và hến rẻ tiền. Vị của cơm hến là sự pha trộn mặn, cay, bùi, giòn, mát. Người không quen mắm ruốc có thể dặn ít mắm.
Quán cơm hến thường nhỏ, bán sáng hoặc chiều, nhiều quán gánh hoặc ngồi vỉa hè. Khi ăn, nên trộn đều trước, nếm rồi mới thêm ớt. Hến là thực phẩm thuỷ sản dễ ôi, nên chọn quán đông khách để hến được xào trong ngày; người có tiền sử dị ứng với nhuyễn thể nên tránh.
Quán bánh xế chiều: đọc tên các loại bánh Huế
Buổi chiều là giờ của quán bánh. Một quán bánh Huế điển hình bán nhiều loại cùng lúc, khách gọi mỗi thứ một đĩa để ăn chung. Bảng giúp bạn phân biệt khi gọi món:
| Tên bánh | Cách làm | Cách ăn |
|---|---|---|
| Bánh bèo | Bột gạo đổ chén nhỏ hấp, rắc tôm chấy, tóp mỡ | Rưới nước mắm, xúc bằng thìa tre ngay trong chén |
| Bánh nậm | Bột gạo mỏng dẹt, nhân tôm thịt, gói lá chuối hấp | Bóc lá, chấm nước mắm ớt |
| Bánh lọc | Bột năng trong suốt, nhân tôm thịt, gói lá hoặc trần | Chấm nước mắm ngọt cay |
| Bánh ướt | Bánh tráng mỏng hấp, có khi cuộn thịt nướng | Chấm nước lèo hoặc nước mắm |
| Ram ít | Ram chiên giòn đặt trên bánh ít dẻo | Ăn kèm rau, chấm nước mắm |
| Bánh khoái | Bánh đổ khuôn nhỏ giòn, nhân tôm thịt giá | Ăn với rau sống, chấm nước lèo đậu phộng |
Quán bánh thường tính tiền theo số đĩa, số chén còn lại trên bàn. Đừng dồn chén đĩa lẫn với bàn bên cạnh, và nếu ăn xong muốn gọi thêm thì cứ gọi, chủ quán sẽ đếm một lần khi tính tiền.
Nem lụi, bánh canh và quán tối
Tối ở Huế có quán nem lụi: thịt heo xay giã nhuyễn với gia vị, quấn quanh que sả rồi nướng than. Nem lụi ăn với bánh tráng, rau sống, chuối chát, khế chua, dưa leo, chấm nước lèo làm từ gan, đậu phộng, mè. Người ăn tự cuốn từng cuốn, đó cũng là cách ăn chậm của Huế.
Bánh canh Huế có nhiều kiểu, nổi tiếng là bánh canh Nam Phổ, gắn với làng Nam Phổ gần trung tâm Huế: sợi bánh làm từ bột gạo và bột lọc, nước dùng có màu cam của tôm, cua, thêm chả và hành. Có quán bán bánh canh cá lóc, bánh canh cua. Món ăn nóng, thường bán chiều tối.
Huế không có đời sống ăn khuya sôi động như Sài Gòn. Quán đóng cửa khá sớm, phố trở nên yên tĩnh. Một số khu gần trung tâm, gần các trường đại học có quán bán khuya hơn, chủ yếu đồ ăn vặt, chè, cháo. Người đến Huế nên tận dụng buổi sáng và buổi chiều để đi quán, và để buổi tối thong thả dạo bên sông.
Với khách muốn ăn tối muộn, các khu phố gần trung tâm như hai bên bờ sông Hương thường còn vài quán mở, bán món nhẹ như cháo, bánh canh, chè. Ăn tối sớm theo nếp người Huế, rồi đi dạo, ghé một quán chè hay cà phê nhỏ là nhịp hợp với thành phố này hơn là tìm một bữa nhậu khuya.
Vị cay Huế: ớt, mắm ruốc và cách nêm
Huế được coi là nơi ăn cay hàng đầu cả nước, và người ăn quán Huế nhận ra điều đó ngay ở chén ớt trên bàn. Có ớt tươi thái lát, ớt bột rang, sa tế xào dầu với sả và tỏi, ớt ngâm. Nhiều món nấu sẵn đã có vị cay, như bún bò, bánh canh cua; món chấm như nước mắm bánh bèo, nước lèo nem lụi đều có ớt. Người Huế quen nói ăn cay cho ấm bụng trong những tháng mưa dầm dài.
Mắm ruốc là gia vị thứ hai làm nên vị Huế. Ruốc là con tép biển nhỏ muối lên men, có mùi mạnh, khi nấu vào nồi bún bò thì tạo vị ngọt đậm mà người lạ khó gọi tên. Mắm ruốc còn được xào với thịt ba chỉ, sả, ớt thành món ruốc xào ăn với cơm, hoặc dùng làm nước chấm cho các món cuốn.
Lối nêm Huế thường mặn và cay hơn Hà Nội, ít ngọt hơn Sài Gòn. Khách lạ nên nếm trước rồi mới thêm, và đừng ngại nói với chủ quán là mình ăn ít cay. Chủ quán Huế thường nhẹ nhàng, ân cần, sẵn lòng gắp bớt ớt hoặc đưa thêm nước dùng không cay. Ngược lại, người mê cay sẽ thấy Huế là nơi mình được thoả thích nhất.
Ăn quán Huế cho đúng nếp: vài điều nhỏ
Huế là thành phố có nhịp sống chậm và người dân khá giữ nếp. Khách đi quán có thể để ý một vài điều để bữa ăn trọn vẹn:
- Nói chuyện vừa phải. Quán Huế nhỏ, khách ngồi gần nhau, tiếng lớn làm phiền bàn bên.
- Gọi món theo đĩa nhỏ, ăn hết rồi gọi thêm, thay vì gọi một lúc quá nhiều để thừa.
- Chén ăn xong để nguyên trên bàn cho chủ quán đếm, không dồn sang bàn khác.
- Hỏi giá trước ở quán khu du lịch, nhất là quán gần các điểm tham quan lớn và quán thuyền trên sông.
- Khi được chủ quán giải thích cách ăn, hãy làm theo; người Huế quý khách chịu nghe và hỏi.
- Ăn mặc lịch sự khi vào các quán gần di tích, đền chùa; Huế có nhiều điểm tham quan cần trang phục kín đáo.
- Nhớ rằng nhiều quán đóng cửa sớm; đi muộn quá có thể không còn quán mở, nhất là vào mùa mưa.
Chè Huế và cà phê muối
Huế được gọi là xứ chè với hàng chục loại chè: chè bột lọc heo quay, chè đậu ván, chè hạt sen, chè bắp, chè đậu đỏ, chè khoai môn. Quán chè ở Huế thường bày nhiều nồi, khách chọn một hay vài loại trộn chung trong ly. Món chè là phần kết của một buổi đi quán bánh, ăn xong bánh mặn lại sang quán chè.
Cà phê muối là món đồ uống nổi lên ở Huế trong khoảng mười năm gần đây: cà phê phin pha với kem sữa có một chút muối, vị mặn nhẹ làm dịu vị đắng và đẩy vị béo. Món nay đã lan ra nhiều thành phố khác. Ngồi quán cà phê ở Huế, khách thấy nhịp chậm rãi của thành phố, người ta trò chuyện lâu, ít vội vàng.
Với người ăn quán Huế lần đầu, một lịch trình đơn giản là: sáng ăn bún bò, giữa buổi uống cà phê, chiều đi quán bánh rồi ăn chè, tối ăn nem lụi hoặc bánh canh. Mỗi chặng gọi vừa đủ, để còn sức cho quán tiếp theo.
Nếu chỉ có một ngày ở Huế, đừng cố ăn hết mọi món. Chọn mỗi nhóm một món tiêu biểu, ăn ở quán đông người địa phương, và dành thời gian ngồi lại trò chuyện với người bán. Cái làm nên quán Huế không chỉ là vị món mà còn là nhịp chậm và sự ân cần ấy.
Câu hỏi thường gặp
Bún bò Huế có phải lúc nào cũng cay?
Phần lớn quán bún bò ở Huế nấu nước có sa tế và ớt nên hơi cay sẵn, ngoài ra còn chén ớt trên bàn để khách thêm. Người không ăn được cay nên dặn trước, hỏi quán có thể múc phần nước ít dầu ớt không. Nhiều quán sẵn lòng chiều theo yêu cầu.
Ăn bánh bèo đúng cách là ăn thế nào?
Rưới nước mắm vào từng chén bánh, dùng thìa tre hoặc thìa nhỏ xúc bánh ra ăn ngay trong chén, không cần trút ra đĩa. Có người thích thêm ớt, có người ăn kèm rau. Chén ăn xong xếp gọn lại để chủ quán đếm khi tính tiền.
Cơm hến có nguy cơ ngộ độc không?
Như mọi món thuỷ sản, hến có thể gây đau bụng nếu không tươi hoặc không được nấu kỹ. Chọn quán đông khách, bán trong ngày, thấy hến được xào nóng. Người có cơ địa dị ứng nhuyễn thể, phụ nữ mang thai hoặc người dạ dày yếu nên ăn thử ít hoặc tránh.
Ẩm thực cung đình Huế có ở quán bình dân không?
Món cung đình đúng nghĩa thường chỉ có ở nhà hàng chuyên phục vụ du khách, giá cao và bày biện cầu kỳ. Quán bình dân thuộc dòng món dân gian, nhưng một số món như bánh bèo, bánh nậm, chè có cách bày tỉ mỉ, gợi lại nếp cầu kỳ của Huế xưa.
Đi Huế mùa mưa ăn quán có khó không?
Mùa mưa ở Huế thường kéo dài vào cuối năm, có đợt ngập. Quán vẫn mở, nhất là quán trong nhà; món nóng như bún bò, bánh canh rất hợp trời mưa. Nên theo dõi tin thời tiết, mang áo mưa, và hỏi chủ nhà nghỉ những quán gần chỗ ở để đỡ đi xa.
Vì sao một số quán Huế chỉ bán một buổi?
Vì mỗi món có giờ ăn riêng và người bán thường là chủ quán kiêm đầu bếp, không đủ sức bán cả ngày. Bún bò bán sáng, bánh bán chiều, nem lụi bán tối. Một mặt bằng có khi được hai người bán khác nhau dùng chung theo buổi.